Năm Tỵ Nói Chuyện Rắn
Chuyện về rắn thì có thật nhiều, tỷ như chuyện nuôi rắn, bắt
rắn, ăn thịt rắn ngon hơn thịt gà. Rằng rắn được dùng ngâm
rượu thuốc trị bịnh nhức mỏi, hoặc mật rắn độc được dùng
vào việc trị bách bịnh. Rắn còn là biểu tượng cho ngành Y-Khoa.
Hoặc chuyện có người tin rằng đi thi mà gặp rắn thì hên; Chuyện
vẽ rắn thêm chân, hoạc như câu chuyện nàng Nguyễn Thị Lộ, tì
thiếp của Nguyễn Trãi, nguyên kiếp trước là rắn hổ mang, đã bị
người ta hại chết cả ổ, nên hóa kiếp báo oán, như đã được
nhắc ở trong văn học sử.
Chuyện kể rằng, vào năm Nhâm Tuất (1442), vua Lê Thái Tôn đi tuần
phươngĐông, duyệt võ ở Chí Linh, Hải Dương, nhân khi nhà vua ghé
thăm chùa Côn Sơn, nơi Nguyễn Trãi ở, thấy nàng tì thiếp của ông
là Nguyễn Thị Lộ, nhan sắc lộng lẫy, lại có tài văn chương nên
nhà vua liền phong ngay cho chức Lễ Nghi Học Sĩ, ngày đêm hầu cạnh
nhà vua. Khi đến Đông tuần, xa giá vua Thái Tôn đến vườn Lệ Chi,
xãĐại Lai, Huyện Gia Định, hiện nay là Gia Bình, thình lình nhà vua
nhuốm bịnh sốt. Thi Lộ hầu hạ suốt đêm, rồi vua Lê Thái tôn mất.
Các quan hốt hoảng, vội vã bí mật phụng giá về Kinh, nửa đêm
mới làm lễ phát tang. Tất cả triều thần đều cho là Thị Lộ âm
mưu giết vua, liền đem nàng giết chết. Lại có nhiều người trước
đây đố kỵ việc Nguyễn Trãi được Lê Thái Tổ trọng dụng, đem
lòng oán ghét, nhân cơ hội này vu cho ông là chủ mưu nên ông bị
hại chết và tru di cả ho. Mãi tới 22 năm sau, vua Lê Thánh Tôn mới
xét lại vụ án, thấy nhiều điểm hàm hồ, oan ức cho vị khai quốc
công thần, liền truyền hủy bỏ án trước, truy phục chức cho Nguyễn
Trãi, con cháu ông được trọng dụng làm quan, lại cấp tư điền
để lo việc tế tự hàng năm. Riêng nàng Thị Lộ, nhiều người bàn
tán rằng: nàng là hóa thân của rắn hổ mang , có thù oán sâu
nặng với vua Lê Thái Tôn, đã tìm mà trả thù. Chỉ tội cho nguyễn
Trãi, hết lòng yêu thương nàng, đã vì nàng bị vạ lây.
Câu chuyện thứ hai mà tôi sắp kể là chuyện "Vẽ Rắn Thêm
Chân".
"Vẽ Rắn Thêm Chân" tức "Họa Xà Thêm Túc" là
thành ngữ, được trích trong điển tích (xuất xứ từ sách Quốc
sách). Chuyện kể rằng: Có một người nước Sở tặng cho những
người giữ nhà một chai rượu. Mấy người nầy thương lượng
với nhau: Rượu thì ít quá, nếu mọi người uống thì chẳng thấm
tháp vào đâu.. còn nhường hết cho một người thì biết nhường
cho ai.. Thôi thì ta thi nhau lấy que vẽ hình một con rắn trên mặt đất
này. Hễ ai vẽ nhanh nhất thì được chai rượu. Mọi người đồng ý
và bắt đầu vẽ. Một người kia vẽ rất nhanh và đẹp, linh động..
vẽ xong anh ta nhìn chung quanh xem có ai vẽ được gì chưa.. nhưng anh
thấy chưa ai vẽ duược gì hết, anh ta vội chộp chai rượu.. tay trái
cầm chai rượu tay phải câm que vẽ tiếp, miệng khoe rằng: "Tôi
vẽ xong rồi nhá, bây giờ tôi chỉ vẽ thêm cho nó 4 cái chân nữa
thôi". Vẽ vừa xong thì một người khác đã giật ngay chai rượu
của anh ta và nói lớn: "Mọi người xem đây, tôi đã vẽ xong
con rắn". Anh thứ nhất vội cãi lại: "Tôi đã vẽ xong lâu
lắm rồi mà.. còn dư thời giờ tôi vẽ thêm 4 chân nữa". Mọi
người đổ xô vào xem và cười ồ lên: "Đó đâu có phải
là con rắn.. con rắn làm gì có 4 chân".
Do đó, câu chuyện vẽ rắn 4 chân, hay "Họa Xà Thêm Túc",
được lưu truyền trong dân gian, để ám chỉ những người hay bày
vẽ lôi thô i, không hợp tình hợp lý.
Qua những câu chuyện về rắn, câu chuyện rắn biết trả ân, báo
oán mà tôi được nghe bà chị cả kể vào những ngày thơ ấu, là
chuyện tôi thích thú nhất, vẫn còn in sâu trong trí óc tôi.
Chị tôi kể rằng: ngày xửa ngày xưa, có bác tiều phu tên Dã
Tràng, ở tận trong rừng sâu, sống bằng nghề đốn củi và săn
bắn. Trong nhà ngoài một con chó và một con mèo, bác còn phu còn
nuôi đôi rắn cụt đuôi. Một hôm đi làm về, bác thấy có con rắn
đực lạ đến gạ gẫm, chim chuột con rắn cái của bác. Thấy thế
bác giận sôi lên, giương cung bắn cho con rắn lạ kia một mũi tên
để trừng trị nó về cái tôi dâm đãng. Nhưng chẳng may, mũi tên
kia bay lạc nhằm ngay con rắn cái của bác, chết quay đơ. Việc này
làm bác hối hận phiền não, tối đến bác không tài nào chợp
mắt ngủ được, cứ lảm nhảm tự trách rằng đã lỡ tay, khi
không hại chết con rắn cái yêu quí của bác. Bác không ngờ rằng
con rắn đực nằm rình ngay đưới gầm giường, nó tính chờ bác
ngủ say sẽ cắn chết bác để trả thù cho vợ nó. Nhưng khi nghe bác
nói lảm nhảm tự trách mình, nó hiểu ra, vợ nó chết chỉ vì rủi
ro, kẻ đáng tội chính là con rắn đực lạ kia. Nó bỏ qua chuyện
lỡ tay của bác, không trả thù bác nữa. Trước khi bỏ đi, nó
nhả tặng bác một viên ngọc thật đẹp để đền ơn bác đã tử
tế, ra tay nghĩa hiệp, thay nó trị tội con rắn lạ dâm đãng kia. Khi con
rắn bỏ đi rồi, bác thấy viên ngọc trông hay hay, liền bỏ vào
miệng ngậm, tức thì bác có thể nghe được tiếng nói của tất cả
các loài muông thú. Một hôm, có con quạ đến đậu trên cây đa
trước ngõ bảo bác rằng: ở ngoài sông có con trâu chết trôi,
mang về mà làm thịt, nhớ dành cho nó bộ lòng. Nghe nó nói vậy,
bác chạy ra bờ sông xem thử, quả nhiên thấy có con trâu chết đang
trôi lềnh bềnh trên sông. Bác bèn kéo vô bờ làm thịt. Nhưng bác
quên khuấy đi lời dặn của con quạ. Mấy ngày sau con quạ đến,
không thấy bác để phần nó bộ lòng trâu, liền cất tiếng chửi
bác ăn bẩn. Bác giận quá, bèn giương cung bắn con quạ một mũi
tên, nhưng mũi tên trật, không trúng nó. Con quạ trả thù bác bằng
cách tha mũi tên bắn trật của bác đem cắm lên một xác người
trôi sông. Khi quân lính phát hiện xác chết có mũi tên của bác,
bèn bắt bác nộp cho quan địa phương. Thế là bác bị buộc tội giết
người. Trong khi ở tù, bác nghe thấy kiến rủ nhau đi ăn trộm mật.
Bác bèn nói cho quân lính đi báo quan để đậy hũ mật lại. Một
hôm khác, bác lại nghe thấy lũ chim sẽ kháo nhau rằng kho gạo nhà
quan có miếng ngói bể, chúng bèn rủ nhau đến đó ăn thóc. Bác
tiều phu cũng lại đem chuyện ấy thuật lại cho lính đại ca, đi trình
quan cho người sửa lại mái ngói lủng. Mấy lần lập được công
như vậy, quan bèn gọi lên để hỏi tại sao bác biết được chuyên
kiến ăn cắp mật và chim ăn trộm thóc mà báo quan. Bác liền nói
rõ tự sự, từ việc con rắn tặng bác viên ngọc và chuyện con
quạ giận mà giá họa giết người cho bác thực ra sao. Quan Huyện
hiểu chuyện bèn ra lệnh tha bổng bác. Người con gái quan Huyện nghe
chuyện viên ngọc thần diệu như thế muốn mượn bác xem thử. Quả
nhiên khi cô ta ngậm viên ngọc vào miệng, cô cũng nghe được chim
muông nói chuyện với nhau. Cô ta thích quá muốn mượn bác thêm
ngày nữa. Một hôm cô ta chơi thuyền trên sông, lỡ đánh rớt
viên ngọc xuống sông, đàn cá chép nuốt nhằm, vì chúng tưởng
đồ ăn. Bác Dã Tràng tiếc ngơ tiếc ngẩn, bèn đem câu truyện mất
viên ngọc kể cho hai con chó và mèo nghe. Chúng liền chạy ra bờ
sông theo dõi những người làm nghề chài lưới, hòng tìm lại
viên ngọc cho chủ. Con mèo ngày nào cũng quanh quẩn trên thuyền của
người đánh cá. Thấy nó quấn quít dễ thương nên chủ thuyền
thường cho nó ăn. Một hôm, người thuyền chài lưới được con
cá chép đã nuốt viên ngọc, Khi làm thịt cá, cho con mèo bộ lòng.
Con mèo ăn trúng viên ngọc đó, nó bèn nhảy thót lên bờ, vội
chạy về đưa viên ngọc cho chủ nó. Con chó, vì cũng muốn lạp với
chủ, nên đã rượt theo con mèo, để dành lại viên ngọc, nhưng
không kịp. Dã Tràng, tức bác tiều phu, được con mèo kiếm lại cho
bác viên ngọc nên mừng lắm, bác thưởng cho nó ăn cơm trước.
Thế là từ đó, mèo nhà ta ngày nào cũng được ăn cơm trước,
khiến con chó tức tối, sinh lòng ghen ghét. Chúng nó chạo nhau hoài
mỗi ngày cũng là vì chuyện này.
Sau này, nghe đâu cũng tại vì tụi chó mèo hay sinh sự với nhau,
nên một ngày kia chúng đã lỡ đánh rớt viên ngọc của chủ
chúng xuống sông. Bác Dã Tràng tiếc ngẩn ngơ, suốt ngày lo tát
nước khúc sông trước nhà mong tìm lại viên ngọc, nhưng đã! hoài
công, bác chẳng bao giờ tìm thấy viên ngọc quí đó nữa.
Nhật Vũ
11-15-00
|