Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong
thế kỷ 20
(Phỏng vấn nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn)
Minh Nguyệt thực hiện
Hoàng Ngọc-Tuấn theo các ngành dân tộc nhạc học và triết học tại
University of New England (1987-1990), và nhạc học và giáo dục học tại
University of New South Wales (1991-1999).
Trong 15 năm qua tại Úc Đại Lợi, ông hoạt động như một nhà sáng
tạo, trình diễn, nghiên cứu, phê bình và giảng dạy trong các ngành
âm nhạc, văn chương và kịch nghệ.
Ông đã hoàn thành rất nhiều tác phẩm cho giọng hát, nhạc khí
độc tấu và hoà tấu; ngoài ra, ông còn sử dụng nguồn điện thanh
và âm thanh môi trường và sinh học. Từ 1985 đến nay, ông liên
tục nhận các tài khoản văn hoá từ Australia Council for the Arts và NSW
Ministry for the Arts để thực hiện những công trình sáng tác âm
nhạc. Đặc biệt trong 10 năm qua, ông viết nhạc cho rất nhiều tác
phẩm sân khấu hình thể (corporeal theatre), trong đó, những tác phẩm
quan trọng là: The Return (1994), Conversations with Charlie (1996), The Monkey Mother
(1998), Earth/Water (1998), và The Monkey Mother (new version, 2000). Hiện có hơn
60 nhạc phẩm của ông được Australian Music Centre (trung tâm âm nhạc
liên bang Úc Đại Lợi) lưu trữ và phát hành. Ông cũng là nhạc
sĩ độc tấu Tây Ban Cầm, thường xuyên trình diễn các nhạc phẩm
của chính mình trên các đài phát thanh ABC, MBS và SBS, và tại các
đại hội âm nhạc quốc tế. Trong những năm qua, ông nghiên cứu
để hoàn tất luận án Tiến sĩ về kỹ thuật khúc thức và mỹ học
âm nhạc đương đại tại University of New South Wales, và đồng thời
giảng dạy về jazz và nhạc hiện đại tại đó; ông cũng giảng dạy
về mối tương quan giữa mỹ học Đông/Tây trong nghệ thuật trình
diễn tại University of Sydney và University of Western Sydney, Nepean. Từ 1995,
ông là phê bình gia âm nhạc cho tạp chí State of the Arts. Hiện ông
đang là "composer-in-residence" cho dàn nhạc tiền phong The Seymour
Group, và đang hoàn tất một tác phẩm multi-media dài gần 1 giờ 30
phút, có nhan đề Soft Silk, Rough Linen, khai triển từ các đề tài
"Đất", "Nước", "Gió" và "Lửa", và
sẽ được công diễn tại New Castle, Wollongong và Sydney vào tháng 7 và
tháng 8 năm 2001.
Trong văn chương, ông viết truyện ngắn, thơ, và nghị luận. Hiện ông
là phụ tá chủ bút tạp chí VIỆT. Tháng 11/2000, ông được Australia
Council for the Arts trao tặng một "New Work Grant" để thực hiện
dự án sáng tác tiểu thuyết (T)hư Cấu. Ngày 31/11/2000 vừa qua, ông
đoạt giải nhất cuộc thi luận văn triết học "Bindeman Essay Prize
2000" do Australian Society of Contemporary Philosophy tổ chức.
Trong kịch nghệ, ngoài nhiệm vụ thường xuyên như một khúc tác gia,
ông đã đóng một trong những vai chính trong các vở The Return (1994)
và The Monkey Mother (2000). Hiện ông đang giữ vai trò khúc tác gia kiêm
kịch tác gia của vở Finding the Buffalo. Vở này được dàn dựng do
sự kết hợp của hai đoàn kịch hiện đại CityMoon Theatre và Powerhouse
Youth Theatre và sẽ công diễn vào tháng 2/2001. Đây một tác phẩm
sân khấu hình thể khai triển trên Thập Mục Ngưu Đồ của Thiền
Tông.
Dưới đây là bài phỏng vấn do Minh Nguyệt thực hiện và phát
sóng về Việt Nam trong chương trình Văn Học Nghệ Thuật của đài
phát thanh Radio Australia. Nền nhạc của bài phát thanh là những đoạn
trích từ những tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn như: "Campanological
Overture" (Khai Tấu Khúc Chung Học), viết cho dàn nhạc chuông, kết
hợp nhiều loại chuông từ các nền văn hoá Đông Tây và được
cấu trúc theo một hồi chuông nhạc lễ cổ truyền Việt Nam; "Exile
Soundscape" (Âm Quyển Lưu Vong), viết cho đàn tranh Việt Nam và dàn
nhạc tổng hợp gồm nhiều nhạc cụ của thổ dân Úc, dụng cụ tạo
âm hiện đại, và âm thanh môi sinh; và "Metamorphosed Strings"
(Cầm Huyền Hoá Thân), viết cho đàn tranh Việt Nam, với hệ thống
lên dây khác la,ï kết hợp các thang âm ngũ cung, toàn cung và dị
chuyển, đồng thời sử dụng những kỹ thuật biểu diễn phản quy
cách.
*
MINH NGUYỆT: Nhìn lại nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20 này, anh
nhận thấy có đặc điểm gì nổi bật và đáng nói nhất?
HOÀNG NGỌC-TUẤN: Theo tôi, nền âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20 là
một nền âm nhạc không cân đối. Nó rất mạnh về hoạt động ca
khúc phổ thông, mà rất yếu về hoạt động khí nhạc và ca khúc
nghệ thuật.
MN: Thế nào là ca khúc phổ thông và thế nào là ca khúc nghệ
thuật? Đâu là ranh giới phân biệt hai loại ca khúc ấy?
HN-T: Ngược lại với âm nhạc nghệ thuật (art music), nhạc phổ thông
(popular music) là loại âm nhạc không đòi hỏi người sáng tác phải
nỗ lực đưa ra những phát kiến mới về kỹ thuật và mỹ học âm
nhạc. Trong nhạc phổ thông, người sáng tác thoải mái sử dụng
những yếu tố kỹ thuật và mỹ học âm nhạc sẵn có từ trước
và được quần chúng yêu thích. Xét về bản chất, âm nhạc phổ
thông, cũng như văn chương phổ thông, chủ yếu nhắm đến những
mục đích mang tính xã hội, chính trị và thương mại, thay vì nhắm
đến những mục đích thuần túy nghệ thuật. Khi nghe một bản nhạc
phổ thông, đọc một bài thơ bình dân, một tiểu thuyết phổ thông,
hay xem một bức tranh bình dân, người nghe, người đọc hay người xem
không cần phải được trang bị vững vàng về vốn liếng kiến thức,
cũng không cần phải nỗ lực vận dụng trí năng để hiểu và cảm
thụ tác phẩm. Nói tóm lại, một tác phẩm phổ thông, dù là nhạc,
văn, thơ hay hoạ, cũng đều là việc sử dụng những công thức,
những bản kẽm sẵn có. Do đó, nó dễ hiểu và dễ cảm thụ. Tác
phẩm nghệ thuật đích thực thì ngược lại. Nó đầy tính độc
sáng, mới lạ, và khó khăn. Ca khúc nghệ thuật đích thực là một
thử thách to lớn về nhiều phương diện đối với cả người sáng
tác lẫn người nghe. Ca khúc phổ thông thì dễ sáng tác và dễ
tiêu thụ. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh ở điểm này: cả hai loại
tác phẩm đều cần thiết. Một loại nhắm đến việc nâng cao và
cách tân nghệ thuật sáng tạo. Một loại nhắm đến việc phục vụ
những nhu cầu hàng ngày. Âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20 chủ yếu
là loại thứ hai, và hình thức hoạt động chủ yếu là ca khúc.
MN: Nhưng tại sao ca khúc phổ thông lại chiếm ưu thế tuyệt đối
như vậy? Nó được hình thành và phát triển như thế nào?
HN-T: Vì thì giờ có hạn, tôi xin được lướt rất nhanh qua những
điểm chính của nền ca khúc phổ thông ở Việt Nam. Hiện tượng ca
khúc phổ thông đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 30
với một số ca khúc mới được sáng tác và ghi theo ký âm pháp
Tây phương.
Trong những ngày đầu, hầu hết các ca khúc tác gia đều tự học
hoặc chỉ có trình độ nhạc học căn bản, và tác phẩm của họ chịu
ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa lãng mạn Pháp cuối mùa về
lời ca và không khí phòng trà Tây phương về âm nhạc. Tuỳ theo
các nhu cầu xã hội và chính trị cụ thể, các ca khúc tác gia có
thể pha thêm vào tác phẩm một chút thang âm ngũ cung bình quân luật
trong giai điệu, và ít nhiều tính cách dân tộc chủ nghĩa và ái
quốc chủ nghĩa trong lời ca. Đối nghịch với những đặc trưng của
dân ca cổ truyền, đặc trưng của ca khúc phổ thông Việt Nam là việc
sử dụng các yếu tố nhạc tính Tây phương trong hoà âm, trong thang
âm bình quân luật, trong bố cục theo dạng A-B-A, trong việc sử dụng
nhóm nhạc nhẹ để đệm cho giọng hát, và trong việc xây dựng tiết
tấu trên sườn của các điệu khiêu vũ phổ thông như tango, valse,
cha-cha, rumba, slow, v.v.
Có thể những nhạc sĩ đầu tiên của nền Tân Nhạc không nhắm vào
mục đích thương mại, nhưng vì vốn liếng âm nhạc rất hạn chế, nên
giá trị tác phẩm của họ chỉ ngang với, hoặc kém hơn, những ca
khúc phổ thông ở Tây phương thời bấy giờ. Sau một giai đoạn
tình ca, ca khúc phổ thông được sử dụng để tác động vào tinh
thần kháng chiến chống Pháp. Sau thời kháng chiến, nó lại quay về
với những cảm nghĩ bình thường và trở thành một món giải trí
hàng ngày. Là một món giải trí hàng ngày, ca khúc phổ thông nhanh
chóng trở thành một hiện tượng giống như hiện tượng ca khúc
thương mại ở Tây phương, và đạt đến cực điểm trong thời kỳ
chiến tranh Việt Nam. Ở miền Nam, nó được liên tục gia thêm hương
vị của loại ca khúc thương mại của Mỹ và Pháp đương thời và
trở thành một mặt hàng tiêu dùng cực kỳ phổ thông. Ở miền
Bắc, nó được sử dụng tối đa như một phương tiện tuyên truyền
chính trị rất mực hữu hiệu và được gia thêm những hương vị
của Trung Quốc và Liên Xô. Như thế, sự ra đời của nó là sự ra
đời của nền Tân Nhạc Việt Nam, và từ đầu nó đã nhanh chóng
nắm vai trò thống lĩnh trong hoạt động âm nhạc Việt Nam, và vẫn
còn giữ vị trí ấy cho đến hiện nay. Quả thực, khán thính giả
Việt Nam đã bị choáng ngợp bởi hiện tượng này đến độ, đối
với đa số người, khái niệm "âm nhạc" hoàn toàn đồng
nghĩa với khái niệm "ca khúc phổ thông". "Nhạc" chỉ
còn có nghĩa là "bài hát."
MN: Đó là tình trạng âm nhạc Việt Nam trước năm 1975 và trong
nước hiện nay. Nhưng với cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại,
tình hình có gì khác không?
HN-T: Ra nước ngoài, các ca nhạc sĩ phổ thông Việt Nam tái lập sự
nghiệp trước hết bằng cách trình diễn lại những ca khúc cũ. Sau
đó, nhiều người bắt đầu viết ca khúc mới có lời Việt ngữ
cho các ca sĩ địa phương trình diễn. Suốt hơn hai thập niên qua, nhiều
ca sĩ mới xuất hiện liên tục và nhiều ban nhạc mới được thành
lập. Họ trình diễn đều đặn ở các phòng nhảy, quán ăn và trong
các cuộc lễ hội của cộng đồng Việt Nam. Dần dần, băng video, băng
cassette, đĩa CD, VCD, và DVD ca khúc phổ thông Việt Nam tràn ngập các
tiệm sách báo và tạp hoá. Ca khúc phổ thông Việt Nam còn được
phát liên tục trên những đài truyền thanh Việt ngữ và tràn ngập
cả trên những mạng internet của người Việt Nam. Báo chí Việt ngữ
in đầy những phóng sự, những tin tức và những quảng cáo về ca
khúc phổ thông Việt Nam. Bên cạnh đó, hiện nay, mỗi cuối tuần
đều có những cuộc trình diễn ở những tụ điểm lớn có nhiều
ca sĩ cùng các ban nhạc sống kết hợp với sinh hoạt khiêu vũ thu
hút rất nhiều khán giả đủ mọi thành phần và lứa tuổi. Như
thế, một lần nữa, ở hải ngoại, ca khúc phổ thông lại giữ địa
vị quan trọng nhất trong hoạt động âm nhạc của người Việt Nam trong
tất cả các cộng đồng Việt Nam trên thế giới.
Xét trên ba phương diện: tổng thể âm thanh, thái độ trình diễn và
thưởng ngoạn, và ý niệm về vai trò của âm nhạc, ta có thể thấy
những điều sau đây. Về tổng thể âm thanh, ca khúc phổ thông Việt
Nam ngay từ đầu đã mang nặng vẻ Âu hoá, và đến nay gần như hoàn
toàn Âu hoá, chỉ còn mơ hồ những nét giả-Đông phương trong
những thang âm ngũ cung bình quân luật. Thái độ trình diễn và
thưởng ngoạn cũng Âu hoá ở mức đó. Việc kết hợp ca khúc
với ban nhạc nhẹ và sinh hoạt khiêu vũ là một bằng chứng rõ
ràng. Ca khúc phổ thông Việt Nam cũng mang một ý niệm về vai trò
của âm nhạc hầu như hoàn toàn xa rời với truyền thống ca hát
dân gian Việt Nam ngày xưa. Trong khi truyền thống ca hát dân gian bao
gồm những bài hát trong lao động, hát ru con, hát lễ bái, hát giao
duyên, v.v... thì ca khúc phổ thông hôm nay chỉ chủ yếu là sinh hoạt
giải trí mang tính tiêu dùng.
Tôi thấy ca khúc phổ thông Việt Nam chứa đựng trong chính nó một
nghịch lý hết sức thú vị.
MN: Nghịch lý gì vậy anh?
HN-T: Nghịch lý như thế này: trong khi phần nhạc hầu như hoàn toàn
mở cửa trước sự Âu hoá như thế, thì phần lời ca lại là
phương tiện chủ yếu để chuyên chở những tâm tình về đất
nước và văn hoá Việt Nam. Ngay cả những người có óc bài ngoại
nhất cũng thưởng thức thoải mái những ca khúc có giai điệu,
tiết tấu và hoà âm hoàn toàn Tây, miễn sao lời ca có chứa
"tình tự quê hương" là đủ. Xin lưu ý: tôi nói lên điều
này không phải để chống Âu hoá hay chống "tình tự quê
hương", mà chỉ để nêu lên sự đối nghịch thú vị giữa phần
nhạc và phần lời của đa số ca khúc phổ thông Việt Nam.
MN: Nhưng tại sao lại có sự nghịch lý ấy?
HN-T: Nguyên nhân của nghịch lý này có thể được giải thích như
sau: khi nghe ca khúc phổ thông Việt Nam, hầu hết người Việt Nam không
chủ yếu "lắng nghe" phần nhạc mà chủ yếu theo dõi phần
lời. Về phần nhạc, như bất cứ thính giả nhạc pop nào trên thế
giới, thính giả Việt Nam cũng chỉ nghe một cách dễ dãi, nhàn tản,
chứ không cần cố gắng tập trung "lắng nghe". Mà nói thực
ra, đa số người có "lắng nghe" chăng nữa, cũng không thể
phân tích được đâu là Tây đâu là Ta cho rành mạch vì không có
kiến thức âm nhạc. Đó là lý do tại sao hầu hết người Việt Nam,
những người thường nhạy cảm và ngay cả dị ứng đối với sự
Âu hoá, đều có vẻ không nhận ra hay không quan tâm đến tính cách
Âu hoá nặng nề của phần nhạc.
Dĩ nhiên người viết ca khúc phổ thông ngay từ đầu cũng đã
không chủ yếu nhắm đến việc tạo nên những tác phẩm nghệ thuật
âm nhạc đòi hỏi nơi thính giả sự tập trung lắng nghe và kiến
thức âm nhạc. Thực tế cho thấy một số ca khúc được viết với
chủ ý nghiêm túc về nghệ thuật âm nhạc và giá trị văn học trong
ca từ đã không thể trở thành phổ thông. Để tác phẩm được
phổ thông, tác giả chỉ cần nhắm đến việc làm nên những lời
hát chuyên chở những tâm tình mà thính giả muốn thu nhận và dễ
dàng thu nhận, và những lời hát này tốt nhất nên được đặt
vào những mô thức giai điệu đơn giản và dễ nhớ. Chính điều
này đã đẩy phần âm nhạc trong ca khúc phổ thông Việt Nam xuống
hàng thứ yếu.
Vì phần nhạc là thứ yếu nên tuyệt đại đa số ca khúc phổ thông
Việt Nam chỉ gồm có một dòng giai điệu được ký âm hết sức
đơn giản. Đối với tác giả của ca khúc nghệ thuật thì phần nhạc
đệm đóng vài trò rất quan trọng, nhưng các tác giả của ca khúc
phổ thông Việt Nam hầu như không bao giờ có ý niệm gì về nhạc
đệm. Khi trình diễn hay thu âm, ca sĩ thường chỉ hát trên nền nhạc
ứng diễn của ban nhạc nhẹ hoặc nền nhạc được phối khí. Người
phối khí thường không phải là tác giả, và bản phối khí thường
rập theo các công thức thịnh hành và hầu như lệ thuộc hoàn toàn
theo thẩm mỹ chủ quan của người phối khí, thậm chí phản bội cả
quan điểm mỹ học của tác giả. Do đó, mỗi ca khúc có thể được
trình diễn trên vô số nền nhạc khác nhau, thậm chí hoàn toàn tương
phản nhau về nhiều phương diện.
Thực tế cho thấy phần lời quan trọng đến độ nhiều ca khúc tác
gia đã phân loại ca khúc của chính mình căn cứ theo chủ đề của
phần lời chứ không phải theo cấu trúc của phần nhạc. Tất nhiên,
nếu chỉ căn cứ trên phần nhạc, chúng ta sẽ thấy giữa các
"thể loại" ca khúc của họ không có một sự dị biệt nào
đáng lưu ý trong âm nhạc.
MN: Như vậy, theo anh, sự đối nghịch giữa phần ý và phần lời
trong ca khúc phổ thông Việt Nam đã có từ lâu nhưng bởi vì phần
lớn thính giả Việt Nam chỉ tập trung chú ý vào phần lời nên
không nhận ra sự đối nghịch này, phải không?
HN-T: Không chỉ thính giả, mà phần lớn người sáng tác ca khúc
cũng chỉ chủ yếu tập trung vào phần lời. Phần nhạc chỉ chủ yếu
được dùng như phương tiện để chuyên chở phần lời.
Sự quan trọng của phần lời còn dẫn đến một số hiện tượng
đáng lưu ý. Một là, hiện tượng bình luận ca khúc như bình thơ,
trong đó người bình luận chỉ hoàn toàn bàn về phần lời và gạt
bỏ phần nhạc, hay cùng lắm là phát biểu vài ý nghĩ đầy cảm tính
và hoàn toàn phi nhạc học. Hai là, hiện tượng xuất bản những
tuyển tập lời ca thuần túy không có dòng nhạc. Và ba là, hiện
tượng lời ca tạo ảnh hưởng lên văn học, qua đó chúng ta có
thể thấy rất nhiều tác phẩm thơ và văn thường trích dẫn hay vay
mượn lời ca. Tuy nhiên, dù lời ca đóng vai trò quan trọng như thế,
giá trị văn học của lời ca thường kém hẳn về phẩm chất nghệ
thuật nếu so với thơ. Tính cách hấp dẫn của lời ca đối với
quần chúng không chủ yếu nằm trong nghệ thuật tạo nên cái mới
lạ trong ngôn từ như thơ mà, ngược lại, nằm trong sự truyền cảm
trực tiếp qua trung gian cái quen thuộc và đầy khuôn sáo của lời ca
với sự hỗ trợ của những giai điệu dễ nhớ. Điều này có thể
giúp ta hiểu tại sao một dân tộc có truyền thống thơ dài lâu như
Việt Nam đến hôm nay lại bị quyến rũ bởi lời ca phổ thông hơn
là thơ. Ở Việt Nam hiện nay, trong khi những tập thơ ngày càng trở
nên hết sức ế ẩm, thì những tập lời ca càng ngày càng được
bán chạy. Chính cái quen thuộc và đầy khuôn sáo mới là cái
chuyên chở những cảm nghĩ gần gũi nhất đối với con người bình
thường, và do đó họ yêu và cần chúng.
MN: Có thể nói người Việt Nam yêu thích ca khúc phổ thông chủ
yếu ở phần lời?
HN-T: Không nhất thiết ai cũng yêu ca khúc phổ thông chủ yếu vì
phần lời. Ta có thể tìm thấy những người không cần lưu ý cả
đến phần lời, mà chỉ cần có một thứ âm thanh và vài ngôn từ
nào đó nhẹ nhàng hay kích động để được thoải mái mơ màng hay
chuyển động gân bắp theo điệu khiêu vũ. Điều này khiến ta không
ngạc nhiên khi thấy có những thính giả ca khúc phổ thông thuộc mọi
dân tộc trên thế giới đã không thể nhớ hết lời một bài hát
đơn giản mà họ đã từng yêu thích rất nhiều năm.
MN: Được xem là một loại hình âm nhạc chủ đạo ở Việt Nam, ca
khúc phổ thông đã có những thành tựu gì đáng kể?
HN-T: Thành tựu đầu tiên của nó là thành tựu về phương diện
âm nhạc. Nhờ sự ra đời của nó chúng ta mới có ý niệm về
"người viết nhạc" (composer). Hầu như cả Á châu ngày xưa
không có ý niệm này. Âm nhạc Á châu chủ yếu tồn tại nhờ
truyền khẩu. Bởi ký âm pháp quá thô sơ nên không thể ghi chép
chính xác âm nhạc. Những bản nhạc ngày xưa chỉ có cái sườn
tổng quát của giai điệu được truyền miệng, truyền ngón, rồi nhạc
sĩ dựa trên đó mà ứng diễn. Bởi không ghi âm lại được,
cũng không chép xuống giấy được, nên chúng ta vừa không có
"composer", vừa phải chịu nạn thất truyền. Cả những cái
sườn giai điệu đơn giản cũng phải bị mất mát hết vì ký ức con
người có hạn.
Dù âm nhạc của chúng ta trong thế kỷ này đã phát triển rất chậm
so với âm nhạc của một số nước Á châu khác, đặc biệt là
Nhật Bản, tôi cho rằng, dẫu sao, việc thu nhận ký âm pháp Tây
phương để sáng tác ca khúc phổ thông cũng là một bước tiến quan
trọng để tạo tiền đề cho ý thức sáng tạo âm nhạc và là nhịp
cầu để chúng ta hiểu biết âm nhạc thế giới. Chúng ta nhất định
phải biết ơn những nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên đã mạnh dạn bước
ra khỏi nền cổ nhạc để tạo nên nền tân nhạc. Tuy nhiên, điều
đáng tiếc là từ ngày đầu tiên của nền tân nhạc đến nay đã
gần ba phần tư thế kỷ rồi mà chúng ta hầu như cũng chỉ dậm chân
tại chỗ, cũng chỉ chủ yếu loay hoay trong lĩnh vực ca khúc phổ thông.
Những thành tựu khác của ca khúc phổ thông là những thành tựu
mang tính chính trị xã hội. Điều hiển nhiên là ca khúc phổ thông
đã góp phần rất to lớn trong những cuộc đấu tranh của dân tộc ta
trong thế kỷ này. Những lời ca thời kháng chiến chống Pháp là
một ví dụ cụ thể. So với thế kỷ 19, thế kỷ 20 đã đem đến cho
chúng ta hình thức ca khúc phổ thông như một môi trường thuận
lợi để diễn tả và truyền đạt những giá trị tinh thần và văn
hoá. Tôi cho rằng kho tàng lời ca của chúng ta trong thế kỷ này,
tính trên cả hai miền Nam Bắc, là một thứ nhật ký tập thể ghi
lại mọi góc độ tâm tình và ý nghĩ của người Việt Nam đối
với nhau và đối với lịch sử. Để hiểu tâm tình và ý nghĩ của
người Việt Nam trong thế kỷ này, con cháu ở thế kỷ 21 có thể
giở cuốn nhật ký tập thể này ra xem lại để thấy tất cả những
ưu khuyết, đẹp xấu của chúng ta trong đó. Tôi xin nhấn mạnh: kho
tàng lời ca này chủ yếu có giá trị phản ảnh xã hội chứ không
chủ yếu có giá trị nghệ thuật. Nhìn chung, lời ca của chúng ta kém
hơn thơ rất xa.
MN: Theo anh lý do gì khiến âm nhạc của chúng ta vẫn chủ yếu là
âm nhạc phổ thông, trong khi một số nước Á châu, đặc biệt là
Nhật Bản, lại có những phát triển to lớn trong nghệ thuật âm
nhạc và chiếm một chỗ đứng quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc
đương đại của thế giới?
HN-T: Tôi cho rằng chúng ta dậm chân tại chỗ vì hai lý do chính: kinh
tế bấp bênh và chiến tranh triền miên. Trong suốt thế kỷ này, đất
nước chúng ta chưa bao giờ có được một nền kinh tế vững vàng
để làm cơ sở vật chất cho những phát triển về văn hoá. Chưa bao
giờ đất nước chúng ta có được một nền giáo dục âm nhạc lý
tưởng. Chúng ta không có giờ âm nhạc ở tiểu học và trung học,
không có khoa nghiên cứu âm nhạc ở đại học. Còn nhạc viện thì
rất nhỏ, rất ít, rất nghèo, và chương trình giảng dạy thì rất lạc
hậu, chỉ lập đi lập lại mãi những kiến thức âm nhạc từ thế
kỷ 19 trở về trước. Nền giáo dục âm nhạc lạc hậu và yếu kém
thì kiến thức của nhạc sĩ tất nhiên phải lạc hậu và yếu kém.
Hơn thế nữa, vì kinh tế khó khăn nên ca nhạc sĩ cần tập trung vào
ca khúc phổ thông để kiếm sống. Ngay cả nếu họ có cơ may được
học hỏi âm nhạc đến nơi đến chốn thì cũng chẳng làm được gì
mấy. Chính phủ thì không có ngân sách và không thấy cần thiết
để tài trợ cho những hoạt động âm nhạc nghiêm túc. Nỗ lực
cá nhân thì hầu như tuyệt vọng. Trong một đất nước mà tuyệt
đại đa số quần chúng không được học một giờ nhạc nào, thì
làm sao một tác phẩm âm nhạc nghiêm túc được thưởng lãm đúng
cách và đúng mức.
So với nền văn chương Việt Nam, phẩm chất của nền âm nhạc Việt
Nam rất thấp. Lý do hiển nhiên là vì từ người viết văn đến
độc giả, không nhiều thì ít, ai cũng được học văn chương từ
bậc tiểu học trở lên, cho nên chúng ta phải có những người
viết và người đọc có trình độ. Còn phần giáo dục âm nhạc thì
quả là một sa mạc khủng khiếp. Muốn thưởng thức thơ thì ít nhất
phải biết đọc chữ, muốn thưởng thức nhạc thì ít nhất phải
biết đọc nhạc. Nếu người không biết đọc chữ chỉ có thể
thưởng thức bằng cách nghe thơ vè bình dân, thì người không biết
đọc nhạc cũng chỉ có thể nghe ca khúc phổ thông là cùng.
Lý do thứ hai là chiến tranh. Trong chiến tranh thì phận sống mong manh
nên đa số người chỉ cần giải trí nhẹ. Vả lại, các chính phủ thì
dựa vào ca khúc phổ thông như một công cụ tuyên truyền hữu
hiệu. Có bao nhiêu thông điệp chính trị thì nhồi cả vào lời ca,
chứ ai màng đến nhạc.
Bởi những lý do đó, ca khúc phổ thông trở thành hoạt động âm
nhạc chủ yếu ở nước ta. Nó là phương tiện giải trí, là lẽ mưu
sinh, là hoạt động thương mại, và tùy thời điểm chính trị, nó
còn là công cụ tuyên truyền.
Nếu Nhật Bản cũng đói khổ và chiến tranh triền miên như nước ta,
tôi tin chắc trình độ âm nhạc của họ cũng chậm tiến như ta thôi.
Vì nghèo đói và chiến tranh, Cam Bốt và Lào còn kém hơn ta nhiều
lắm.
MN: Liệu hai lý do về kinh tế và chiến tranh có đủ giải thích tình
trạng chậm tiến trong lãnh vực âm nhạc Việt Nam không? Tại sao từ
năm 1975 đến nay, cộng đồng người Việt ở hải ngoại được
hưởng một đời sống bình yên và sung túc mà sinh hoạt âm nhạc
cũng không có gì khác thời còn trong nước?
HN-T: Có khác chút ít chứ. Đã có một số khúc tác gia người
Việt ở các nước trên thế giới thực hiện được những tác
phẩm âm nhạc có giá trị cách tân quan trọng trong các lĩnh vực
nhạc giao hưởng, đại hoà tấu, thính phòng, độc tấu, thanh nhạc,
nhạc kịch và nhạc múa. Họ còn có khả năng đem những yếu tố
nhạc tính cổ truyền Việt Nam vào tác phẩm đương đại một cách
sâu sắc và mới lạ. Nhưng những thành tựu đó đã không được
người Việt Nam chúng ta lưu ý. Thế hệ thứ nhất của người Việt
lưu vong vẫn còn bận rộn sinh nhai, làm lại cuộc sống, và mang theo
trong tâm hồn cái thẩm mỹ âm nhạc cũ, thì đâu có màng đến
những thành tựu âm nhạc mới. Đối với đa số người Việt,
thứ nhạc đương đại đó là "quái đản".
Thế hệ trẻ của chúng ta ở hải ngoại vẫn chưa có mấy ai thực
sự yêu âm nhạc hay các nghệ thuật khác một cách đúng nghĩa. Đa
số vẫn chọn học các ngành thực dụng để dễ có việc làm. Tuy
nhiên, chúng ta có thể thấy rất nhiều gia đình ở hải ngoại đã
bỏ tiền cho con cái học đàn, học nhạc. Tôi cho đó là cơ sở để
thế hệ này cải tiến thẩm mỹ âm nhạc và thế hệ sau nữa sẽ
tiến xa hơn.
Trở lại với thế hệ lưu vong thứ nhất, chúng ta thấy hiển nhiên
họ vẫn tiếp tục say mê nhạc phổ thông. Thực tế cho thấy đa số
người Việt Nam ở hải ngoại đã bỏ rất nhiều tiền bạc, thì giờ
và sức khoẻ để tham dự những cuộc trình diễn ca khúc phổ thông
và để thu thập băng đĩa. Trong khi người Việt Nam trong nước có
thể say mê nhạc phổ thông với thái độ thuần túy giải trí mang
tính tiêu dùng, thì con người xa xứ có thể còn tìm đến ca khúc
phổ thông vì một lý do khác quan trọng hơn.
Quan sát đời sống người Việt Nam ở hải ngoại, chúng ta có thể
thấy rằng, để tránh sự đồng hoá dễ dàng và toàn diện vào
nền văn hoá mới và hậu quả là sự triệt tiêu văn hoá gốc,
họ đã chia cuộc sống của họ ra thành hai phần: phần thứ yếu là
môi trường lớn của nơi làm việc hàng ngày, nơi họ phải dung nạp
những mô thức ứng xử của xã hội mới để có thể hội nhập
một cách tốt đẹp; và phần chính yếu là môi trường nhỏ của gia
đình và cộng đồng sắc tộc, nơi họ cố gắng duy trì những mô
thức ứng xử truyền thống. Để có thể thành công trong xã hội
mới, họ phải bỏ ra nhiều giờ mỗi ngày để hoà mình vào văn
hoá chính mạch, và sau giờ làm việc, họ cần phải nhúng mình trở
lại vào dòng nước truyền thống để tạo nên một đối trọng
trước sức ép của văn hoá chính mạch. Lời hát của ca khúc phổ
thông Việt Nam với tình hoài hương và tâm lý bảo thủ chuyên chở
bằng một thứ ngôn ngữ quen thuộc và khuôn sáo là một trong
những yếu tố quan trọng hỗ trợ cho đối trọng ấy. Xét trên phản
ứng cảm tính, trong những giai đoạn chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc nổi
lên, đối trọng ấy lại càng cần thiết gấp bội. Một điều cần ghi
nhận thêm: trong những năm gần đây, càng ngày người Việt Nam ở
hải ngoại càng sẵn sàng đón nhận nhiều thêm những ca khúc phổ
thông từ cố quốc. Lý do là phần lời của ca khúc phổ thông ở
Việt Nam hầu như đã dần dần bớt tính cách tuyên truyền chính trị
và lại đang tăng cường "tình tự quê hương".
MN: Theo xu hướng ấy, tương lai của ca khúc phổ thông Việt Nam ở
hải ngoại sẽ đi về đâu?
HN-T: Khi đã thấy rằng trong ca khúc phổ thông của chúng ta phần nhạc
là phụ và phần lời là chính, thì ta có thể thấy ngay rằng ca khúc
phổ thông Việt Nam ở hải ngoại không thể thực hiện được việc
trồng cấy những yếu tố âm nhạc Việt Nam vào phong cảnh âm nhạc
thế giới. Phần nhạc của chúng ta chỉ là sự lập lại những yếu
tố âm nhạc rất cũ của Tây phương và rất nông cạn của Đông
phương. Phần lời của chúng ta thì ngoại nhân sẽ không hiểu. Bởi
thế, dù đó là một lĩnh vực hoạt động âm nhạc thu hút nhiều
người Việt Nam nhất, nhiều thì giờ, tiền bạc và sức khoẻ nhất,
nó đã hoàn toàn không được giới âm nhạc thế giới biết
đến. Những sinh hoạt ca khúc phổ thông Việt Nam ở hải ngoại, nếu
được nhắc đến, cũng chỉ được xem như những sinh hoạt xã hội,
chứ không phải sinh hoạt âm nhạc. Lực lượng ca khúc tác gia và
ca sĩ phổ thông Việt Nam hầu như là những người vô hình trong
đời sống âm nhạc ở hải ngoại. Nói tóm lại, tôi cho rằng dù
kéo dài đến bao nhiêu năm đi nữa, ca khúc phổ thông Việt Nam ở
hải ngoại và cả trong nước vẫn chỉ là hoạt động "ta hát ta
nghe", chứ không tạo được ảnh hưởng gì đến âm nhạc của
thế giới. Tuy nhiên, như tôi đã nói, ca khúc phổ thông là cần
thiết vì nó phục vụ cho nhu cầu tình cảm bình thường của con
người và những mục đích khác của xã hội.
MN: Trong tình hình như vậy, theo anh đâu là đường hướng phát
triển cần thiết của nền âm nhạc Việt Nam?
HN-T: Tất nhiên để một nền âm nhạc hay văn chương hay hội hoạ
phát triển tốt đẹp thì nó phải nhắm đến mục đích nghệ thuật
đích thực, chứ không phải các mục đích xã hội, chính trị, thương
mại hay thuần túy giải trí. Ca khúc phổ thông sẽ muôn đời chạy
theo thị hiếu và trình độ chung của quần chúng, nên không thể đặt
ra vấn đề nghệ thuật nghiêm túc được. Vấn đề của chúng ta là
làm sao để cải tiến và phát triển âm nhạc như một nghệ thuật
nghiêm túc.
Âm nhạc nghệ thuật của chúng ta có hai nhánh: nhánh cổ truyền và
nhánh đương đại. Nhánh cổ truyền là sự kế thừa của nền âm
nhạc Việt Nam từ đời Trần đến đời Nguyễn, và chủ yếu là
đời Nguyễn, vì những gì xa hơn thế đã bị thoái diệt cả, hầu như
chỉ còn trong giai thoại. Nhánh đương đại là nhánh mới sơ sinh
được chừng hơn nửa thế kỷ nay. Tôi cho rằng nhánh cổ truyền
đáng quý ở giá trị văn hoá mang tính lịch sử, nhưng chúng ta nên
dồn nhiều nỗ lực vào việc phát triển nhánh đương đại hơn là
vào việc bảo tồn nhánh cổ truyền. Thứ nhất là vì chúng ta không
thể bảo tồn nguyên trạng những tính cách của nền văn hoá nông
nghiệp và phong kiến trong một đời sống công nghiệp, kinh tế thị
trường và dân chủ hiện đại. Thứ hai là vì, từ bản chất, nền
âm nhạc nghệ thuật cổ truyền của chúng ta là một nền âm nhạc
tự nó không có nền tảng vững chắc và thiếu khả năng tái sinh.
MN: MN có đọc bài viết "Musings on the Nature of Self" của Alanna
MacLean trên tờ Canberra Times ngày 6 tháng 10. Khi tường thuật lại
cuộc hội nghị Asian Australian Identities Conference tại Canberra vào tháng 10
vừa qua, Alanna MacLean trích câu nói của anh trong cuộc hội nghị:
"What is fixed is dead" để làm ý chính nhằm khai triển cho bài
viết của bà ấy. Anh có thể nói thêm về điều này?
HN-T: Vâng, thưa chị. Trong hội nghị ấy, tôi đọc bài tham luận nhan
đề "Vietnamese-Australian Music: An Ironic Situation". Trong bài tham
luận tôi có nhấn mạnh vào điểm: văn hoá, trong âm nhạc hay ngoài
âm nhạc, không bao giờ là một điều gì hoàn toàn cố định để
chúng ta bảo tồn. Điều gì hoàn toàn cố định, không còn có thể
thay đổi, điều ấy đã chết. Ở bất cứ một điểm nào trong dòng
chảy của thời gian, văn hoá là một điểm gặp gỡ giữa di sản
và những dữ kiện mới. Như những thành viên của một nền văn
hoá, ta luôn luôn phải đương đầu với những dữ kiện mới. Ta
không thể tránh né chúng. Để có thể sống được với những
dữ kiện mới, ta hồi chiếu về di sản của ta để tìm cách ứng
xử với chúng. Đôi khi ta phải uốn nắn các dữ kiện mới chút
ít để đặt chúng vừa vặn vào cái khung của di sản, nhưng thường
thì ta lại phải sửa đổi cái khung của di sản chút ít để có thể
dung chứa những dữ kiện mới. Đó là công việc hàng ngày của
ta. Như thế, di sản của ta luôn luôn bị sửa đổi từng chút và
từng chút không ngừng. Đó là chưa nói rằng thậm chí đôi khi ta
phải thay đổi cùng lúc nhiều mặt của di sản để có thể sống sót
trước những dữ kiện mới.
Khi nói về diện mạo văn hoá, thực ra ta chỉ nói về một bức ảnh
chụp cái khung của một nền văn hoá tại một điểm bất động nào
đó trong thời gian. Hơn thế, văn hoá không phải là một kho tàng
được tích lũy vô hạn. Nó là một thứ kho tàng có giới hạn,
trong đó những báu vật cũ cứ liên tục trở nên mất giá trị
và được thay thế bằng những báu vật mới. Một nền văn hoá
"sống" là một nền văn hoá mà diện mạo của nó được
nhìn thấy qua những báu vật mới của nó. Một nền văn hoá
"sống" không phải là một viện bảo tàng chứa những di vật
vô dụng của ngày xưa. Cùng lắm, những di vật ấy chỉ làm thoả
mãn óc hiếu kỳ văn hoá hay tò mò lịch sử.
MN: Trong bài nhận định của Alanna MacLean còn có đoạn: "Lời
tuyên bố của Hoàng Ngọc-Tuấn được minh hoạ không ở đâu rõ
ràng bằng ở ngay trong phần văn nghệ phụ diễn của Hội Nghị."
Sau đó, MacLean có đưa ra vài dẫn chứng. Anh có thể cho biết thêm
về những cách hiểu và thể hiện văn hoá trong phần trình diễn ấy?
HN-T: Vâng. Như chị biết đấy, Hội Nghị ấy có hơn 70 đại biểu là
các học giả và nghệ sĩ từ Úc và các quốc gia Á châu tham dự.
Trong bài tham luận của tôi, tôi có nhấn mạnh ở điểm: chúng ta
phải hết sức cảnh giác, đừng để văn hoá dân tộc biến thành
một trò trình diễn cho khách du lịch. Nghệ thuật của một nền văn
hoá "sống" vào cuối thế kỷ 20 phải vừa mang tính cách
tương đối đặc thù sắc tộc, lại vừa mang tính cách hoàn cầu
đương đại. Nếu chúng ta cố gắng trình bày nguyên thể những nét
văn hoá mang tính cổ xưa và địa phương, chúng ta sẽ chỉ khiến khán
giả ngoại quốc nhìn vào đó qua con mắt du lịch để thoả mãn óc
hiếu kỳ văn hoá, chứ không nhìn qua con mắt nghệ thuật. Nhận định
của tôi đã gây một không khí sôi nổi trong cử toạ. Đó là lý
do tại sao trong nguyên bài tổng kết hội nghị, MacLean đã chỉ trích
dẫn, nhấn mạnh và khai triển những điều tôi nói.
Trong đêm văn nghệ kết thúc hội nghị, tất cả những tiết mục
"hấp dẫn du lịch" bị lộ ra nguyên hình. May mắn thay, tất cả
các tiết mục của nhóm Việt Nam tại Úc đều thoát khỏi điều này.
Như chị thấy, trong bài viết, MacLean đã nồng nhiệt ca ngợi các vở
kịch của Tạ Duy Bình, Lê Quý Dương và Đỗ Khoa, những nghệ sĩ đang
sống ở Sydney. Họ đã hết sức tài tình, kín đáo và sâu sắc khi
đem những yếu tố văn hoá đặc thù Việt Nam vào tác phẩm đầy
tính tiền phong của họ. Do đó, tác phẩm của họ được xem với con
mắt nghệ thuật thực sự. Những yếu tố văn hoá đặc thù Việt
Nam không hiện trên bề mặt nông cạn theo kiểu bày hàng quảng cáo,
mà tiềm ẩn bên dưới những cấu trúc hình tượng và ý tưởng
hết sức phức tạp và trừu tượng. Đó là những tác phẩm nghệ
thuật đương đại mang tính quốc tế, nghệ thuật của "một"
thế giới "đa" văn hoá, trong đó, tính cách Việt Nam đan
quyện vào những tính cách khác một cách hết sức tinh tế và sinh
động.
Như chị thấy, trong bài viết ấy, MacLean còn nhắc đến sự thất bại
của đoàn múa rối nước Sông Ngọc. Khi mới đến Úc lần đầu
vào năm 1997, đoàn ấy được khán giả Úc nồng nhiệt khen ngợi.
Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, kể từ khi đoàn ấy được
chấp nhận tỵ nạn chính trị ở Úc, họ không còn được khán giả
lưu ý nữa, chỉ vì óc hiếu kỳ văn hoá của khán giả đã được
thoả mãn. MacLean nói rõ rằng khán giả Úc không còn muốn làm
khách du lịch tại chỗ để xem múa rối nước nữa, thà họ mua vé
máy bay về Hà Nội xem đoàn Thăng Long diễn còn thích hơn, vì du lịch
thực sự bao giờ cũng vui hơn du lịch tại chỗ. Thực tế cho thấy
đoàn Sông Ngọc hiện nay hoàn toàn thất nghiệp. Người ta chỉ xem
đồ cổ một lần là đủ chán.
MN: Trở lại với nền âm nhạc nghệ thuật cổ truyền của chúng
ta, anh cho rằng đó là một nền âm nhạc tự nó không có nền tảng
vững chắc và thiếu khả năng tái sinh. Anh có thể nói rõ hơn một
chút?
HN-T: Để soi rọi vào điểm này, ta nên lướt qua những đặc tính
chính của nó. Âm nhạc nghệ thuật cổ truyền Việt Nam không tồn tại
trên những bản ký âm chi tiết, mà tồn tại chủ yếu qua đường
lối truyền khẩu. Trong trường hợp cần có bản ký âm để làm
phương tiện giúp trí nhớ, các nhạc sĩ Việt Nam thuộc sắc tộc Kinh
ngày xưa sử dụng một số chữ để đặt tên cho các âm. Nhạc cổ
truyền Việt Nam của sắc tộc Kinh sử dụng nhiều dạng ngũ cung khác
nhau nhưng chủ yếu sử dụng năm âm chính là hò, xự, xang, xê,
cống. Để có thể ký âm những giai điệu rộng hơn một bát độ
Tây phương, hoặc để ghi nhận sự khác biệt giữa các điệu thức,
các nhạc sĩ Việt Nam đã đặt thêm vài chữ nữa như phan, liu, ú,
oan. Nhìn chung, cách ký âm này chịu những hạn chế như sau: âm vực
được ký âm rất hẹp; âm sắc, cường độ, trường độ và tiết
tấu không được mô tả; và không có khả năng ghi bè đa điệu.
Bởi những hạn chế đó, những nhạc khúc cổ truyền Việt Nam chỉ
là những sườn giai điệu rất đơn giản và tổng quát. Để trình
tấu một nhạc khúc, nhạc sĩ phải sử dụng tài khéo của mình để
tô điểm cái sườn giai điệu của nó. Người có khả năng tô
điểm phong phú đến chừng nào thì được đánh giá cao chừng ấy.
Từ một cái sườn đơn giản, người ứng biến được "nhiều
chữ" chứng tỏ kỹ thuật cao hơn người ứng biến được
"ít chữ". Người có độ nhạy cảm mỹ học âm nhạc tốt
và kiến thức âm nhạc sâu sắc có thể tạo được những
"chữ đờn" hay, và ngược lại là những "chữ
đờn" dở. Do đó, khi thưởng thức âm nhạc, thính giả không
thưởng thức cái sườn của giai điệu, mà thưởng thức tài ứng
biến, tô điểm của nhạc sĩ. Một thính giả đúng nghĩa phải có
kiến thức về sườn giai điệu để có thể đánh giá được mức
độ phong phú của tài ứng biến, phải có kiến thức về cách
đánh giá ngón đàn, và phải có kiến thức về cơ sở mỹ học
của từng bản nhạc cụ thể.
Tất nhiên, âm nhạc nghệ thuật cổ truyền Việt Nam có một lịch sử
rất dài lâu, nhưng tổng số bài bản lại chỉ còn có chừng vài
chục sườn giai điệu, trong số đó có nhiều sườn giai điệu vay
mượn nét nhạc hay nhan đề từ Trung Quốc. Nguyên nhân tổng quát ta
có thể nhìn thấy là Việt Nam ngày xưa không có truyền thống sáng
tác âm nhạc mới. Không riêng gì Việt Nam, tất cả các nước Á
Đông khác cũng không có ý niệm về khúc tác gia như người
chuyên viết nhạc để người khác trình tấu. Ý niệm về khúc tác
gia xuất hiện sớm nhất ở Nhật Bản và Đại Hàn cách đây chỉ
chừng một thế kỷ, và đó là một ý niệm du nhập từ Tây
phương. Việc đào xới các nguyên nhân sâu xa của tình trạng vô
danh tính của người làm nhạc có lẽ rất phức tạp. Tạm thời,
tôi chỉ xin nêu lên vài suy nghĩ. Tôi cho rằng truyền thống
"thuật nhi bất tác" của Khổng giáo có thể là một trong
những nguyên nhân chính. Trong truyền thống này, nhạc sĩ chỉ xem mình
là kẻ có nhiệm vụ tái truyền đạt những tư tưởng sẵn có của
tiền nhân sao cho hay, chứ không nhắm đến việc sáng tạo. Kho tàng
khiêm tốn của âm nhạc nghệ thuật cổ truyền, do đó, chỉ là những
sườn giai điệu của một số nhạc sĩ vô danh nào đó từ ngàn xưa
truyền lại.
Chính vì không nhắm đến việc sáng tác, nhạc sĩ ngày xưa không có
nhu cầu tạo nên phương pháp ký âm hoàn chỉnh. Các sườn giai điệu
rất đơn giản, nên thế hệ trước có thể học thuộc chúng bằng
miệng, và từ đó tiếp tục dạy lại cho thế hệ sau. Khi không có
phương pháp ký âm hoàn chỉnh, nhạc sĩ có thể ngẫu tấu một khúc
nhạc nào đó trên đàn, nhưng không thể nào ghi lại được. Khi
một bản ngẫu tấu chỉ xảy ra trong chốc lát và không để lại dấu
vết, tác giả của nó không thể được xem như một khúc tác gia.
Nếu tác giả cố gắng nhớ lại, ký ức sẽ không thể mang tính
chính xác và chi tiết, và cùng lắm, người ấy chỉ nhớ lại một
ý nhạc chung chung. Khi người ấy dạy lại ý nhạc ấy cho nhạc sinh,
ý nhạc ấy có thể chỉ còn là một sườn giai điệu thô sơ vì
nhạc sinh không chắc đã đủ kỹ thuật để bắt chước giống thầy.
Còn về nhạc học, suốt mấy ngàn năm văn hiến, chúng ta không xây
dựng được một cơ sở lý thuyết nào vững chãi. Chúng ta chỉ
thấy lác đác trong Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn và trong
Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ những kiến thức âm nhạc hết
sức sơ sài và lập lại của Trung Hoa. Đó là lý do tại sao tôi
nói nền âm nhạc nghệ thuật cổ truyền của chúng ta là một nền
âm nhạc tự nó không có nền tảng vững chắc và thiếu khả năng
tái sinh.
Tôi cho rằng vấn đề của chúng ta không phải là làm sao để bảo
tồn cái kho tàng khiêm tốn đó, mà làm sao để sử dụng những
yếu tố còn giá trị của nó vào việc tạo nên âm nhạc nghệ thuật
đương đại, âm nhạc của một nền văn hoá "sống".
MN: Nói như anh nghe cũng có lý, nhưng một số người khác có thể
sẽ cãi lại là tại sao chúng ta không cố hết sức để bảo tồn
hoặc tiến hành công việc bảo tồn song song với công việc đổi
mới? Không biết anh nghĩ sao?
HN-T: Chúng ta đã cố hết sức bảo tồn âm nhạc nghệ thuật cổ
truyền đấy chứ. Để thực hiện việc bảo tồn, các nhạc viện và
các nhà nhạc học ở Việt Nam đã bắt đầu sử dụng ký âm pháp
Tây phương từ hồi giữa thế kỷ này để ghi lại các sườn giai
điệu. Thậm chí, họ còn thu âm và ghi chép thật chi tiết các bài
trình tấu của những nhạc sĩ thượng thặng để làm tài liệu. Tuy
nhiên, tổng số những sườn giai điệu sưu tập được thì quá ít
ỏi, còn những bài trình tấu được ký âm thì không thể được
xét như những nhạc phẩm đúng nghĩa, vì mỗi lần trình tấu đều
được nhạc sĩ ứng biến khác nhau rất nhiều, mà bản ký âm chỉ
chép được một lần nào đó. Dẫu sao, những bản trình tấu được
thu âm và ký âm chi tiết có thể hữu dụng ở chỗ chúng cho phép
ta phân tích tất cả những góc cạnh tế vi của mỹ học và kỹ
thuật âm nhạc cổ truyền để từ đó nhìn thấy những yếu tố
đặc thù dân tộc. Tuy nhiên, tôi lại muốn nói ngay rằng kết quả
của việc phát hiện những yếu tố đặc thù dân tộc chỉ thực sự
lợi ích khi ta ứng dụng nó vào việc xây dựng một nền âm nhạc
lớn mạnh cho tương lai, thay vì dùng nó để tự hào và tiếp tục
bám chặt vào quá khứ. Thực tế cho thấy sự lo sợ bị Âu hoá
đã khiến những nỗ lực của các chính quyền và giới trí thức
suốt trong nhiều năm qua cũng chỉ chủ yếu dừng ở chỗ bảo tồn.
Tôi xin nêu lên sự thật rằng từ khi có hiện tượng ca khúc phổ
thông đến nay, âm nhạc nghệ thuật cổ truyền Việt Nam vẫn luôn
luôn nằm ở thế yếu và rõ ràng càng ngày càng yếu, dù các
chính quyền ở Nam và Bắc Việt Nam đều ít nhiều có vẻ lưu tâm
đến công tác bảo tồn.
Trong thực tế, việc bảo tồn chỉ đạt được ở mức độ hình
thức. Kiểu như giữ cái kiếm cũ trong viện bảo tàng chứ không
thể dùng nó như một vật có giá trị sinh động trong nền âm nhạc
đương đại. Tôi cho rằng chúng ta đã yêu quá khứ nhiều hơn yêu
tương lai.
MN: Nhưng nếu không bảo tồn được di sản âm nhạc cổ truyền thì
theo anh chúng ta nên làm gì?
HN-T: Tôi cho rằng chúng ta phải bảo tồn bằng một cách khác. Thay vì
cố gắng một cách vô vọng để tiếp tục xây các viện bảo tàng,
chúng ta nên xây ngay nhiều phòng thí nghiệm. Làm thế nào để ứng
dụng sự kết hợp những chất liệu cổ còn giá trị và những
chất liệu hết sức mới lạ vào việc sáng tạo những tác phẩm
có tầm cỡ, nghĩa là làm thế nào để chúng ta có một nền âm
nhạc Việt Nam vừa đặc thù, vừa có giá trị sáng tạo ngang tầm
với những nền âm nhạc chính quy của thế giới đương đại mới
là điều chúng ta nên lưu tâm.
Tuy nhiên, nói đến vấn đề phát triển nền âm nhạc nghệ thuật
Việt Nam là nói đến một vấn đề cực lớn. Một vài cá nhân
không thể làm được. Phải có một ngân sách dồi dào, một hệ
thống giáo dục âm nhạc hoàn chỉnh và cập nhật, và một lượng
thời gian khá lớn để nâng cấp trình độ sáng tác của nhạc sĩ
và trình độ thẩm mỹ âm nhạc của quần chúng, trước khi chúng ta
làm được điều gì thực sự đáng kể. Nói cụ thể, để âm
nhạc đương đại của chúng ta bắt kịp Nhật Bản chẳng hạn, nền kinh
tế và giáo dục của chúng ta phải bắt kịp họ trước đã. Vấn
đề này cực lớn, nhưng không phải vì thế chúng ta tránh suy nghĩ
và mơ ước về nó. Không một thành tựu to lớn nào không bắt
nguồn từ một suy nghĩ và một ước mơ chính đáng. Một thế kỷ
mới đang chờ chúng ta.
Minh Nguyệt thực hiện
|