Chỉ Là Kỷ NiệmCao Xuân Lý
Từ ngày được tha ra trại cải tạo, Thưởng trở lại nghề dạy học. Tất nhiên không phải là dạy ở những trường nhà nước vì không dễ gì người ta chấp nhận cho chàng dạy như vậy. Bây giờ người ta đòi hỏi hồng hơn chuyên mà! Hơn nữa, giáo viên nhà nước người ta còn đổi nghề, chạy ra ngoài chợ trời buôn bán vặt vãnh để sống qua ngày, thì chàng cũng chẳng dại gì mà đâm đầu vào đấy, để rồi lại nem nép sợ từ anh hiệu trưởng tới anh hiệu phó, và ngay cả với mấy người đồng nghiệp!
Thưởng có chút vốn liếng về Anh ngữ, mà phong trào học Anh Văn bây giờ lại lên cao, cao hơn cả thời kỳ Mỹ còn nửa triệu quân ở miền Nam, vì ai cũng cố chuẩn bị cho mình một chút vốn liếng tiếng Anh để đi nước ngoài, dù là đi chính thức hay là đi chui, nên Thưởng nghiễm nhiên trở thành thầy giáo dạy tiếng Anh, mặc dầu chàng chỉ dạy kèm tại tư gia hai, ba người. Nhiều khi Thưởng cũng hơi áy náy lương tâm, dù tiếng Anh của chàng không đến nỗi quá tệ, nhưng chắc chắn là không đủ để mang danh là giáo sư Anh ngữ, như những người học trò hay láng giềng thường gọi chàng. Nhưng dù có áy náy trong lòng, Thưởng cũng chẳng có con đường nào khác để chọn lựa. Dạy tiếng Anh dù sao cũng là cách kiếm sống dễ dàng, lại nhàn hạ. Nếu buông nghề này ra, thì chàng chỉ có một nghề duy nhất là đạp xích lô mới may ra đủ tiền để nuôi tấm thân mình, chứ chưa nói gì đến vợ con!Nghĩ đến vợ con, Thưởng không khỏi buồn lòng. Ngày chàng đi tù, Loan đi thăm nuôi được một dạo rồi một ngày một thưa dần, có khi cả năm nàng mới lại đi thăm một lần. Thế rồi bẵng đi mấy năm Loan không đi thăm mà cũng không nói cho chàng biết lý do. Nàng đi ra khỏi đời chàng một cách lặng lẽ, trái hẳn với lần nàng đến. Thưởng chợt nhớ đến cái đám cưới của mình và Loan tổ chức rình rang tại nhà hàng Đồng Khánh, hình như đến hơn ba mươi "thồi". Cả Thưởng lẫn nàng đều lộng lẫy trong những bộ quần áo đắt tiền, và cả họ hàng hai bên cùng bạn bè cũng vậy. Ai ai cũng chúc cô dâu chú rể trăm năm hạnh phúc...
Ấy vậy mà chỉ một năm sau mọi sự đều đổi khác. Thân nhân họ hàng đều chạy tứ tán mỗi người một phương. Cha mẹ của Loan giờ này hình như đang ở bên Pháp, nhưng lũ em của nàng có đứa lại sang tuốt tận bên Mỹ. Còn gia đình chàng thì lại quá rủi ro! Sau vụ cải tạo công thương nghiệp, bố mẹ chàng mất hết tài sản, lại bị đẩy đi vùng kinh tế mới tít tận Tây Ninh, rồi ít lâu sau chết ở đấy!
Trở về nhà từ trại cải tạo với hai bàn tay trắng, vợ con nhà cửa không còn, Thưởng đành tá túc nhà cô em gái, trước đây cũng khá giả nhưng bây giờ chỉ còn lại cái nhà, còn đồ đạc thì đã bán dần để sống qua ngày.
Thưởng nhớ lại ngày trở về, thấy hoàn cảnh bi đát của mình chàng đã có ý định tự tử cho xong cuộc đời, nhưng rồi cũng không có can đảm để làm chuyện ấy! Lúc đầu, nghĩ không còn cách gì để kiếm sống, Thưởng đã xách mớ dụng cụ gồm kìm búa và mấy đồ đạc lỉnh kỉnh khác, kiếm một gốc cây ngồi để sửa xe đạp, một nghề mà trước đây chàng không bao giờ làm nhưng nghĩ là mình có thể làm được, hay ít nhất cũng có thể tạm được. Nhưng chỉ ít ngày sau Thưởng khám phá ra cái khả năng hạn hẹp của mình trong cái nghề tay chân này. Nghề nghiệp tuy đơn giản, tầm thường thật nhưng chàng cũng chỉ làm được những công việc lặt vặt như vá lốp, căng dây xích, còn những việc như cân vành bánh xe thì chàng vụng về thấy rõ. Sự vụng về của Thưởng làm mất thì giờ của khách hàng đến nỗi có một người khách đã bực mình nói với chàng:
-Ông dẹp cha nó cái nghề này đi, ông có biết sửa xe đâu mà cũng trưng bảng làm mất thì giờ người ta!
Thưởng thẹn đỏ mặt vì câu nói của người khách và từ đó dẹp luôn nghề sửa xe.
Nhưng bỏ nghề kéo theo sự túng quẫn về tiền bạc. Cô em gái giỏi lắm cũng chỉ có thể bao ông anh là Thưởng ngày hai bữa, chứ không thể cung cấp về tiền bạc để tiêu pha được. Thưởng phải la cà ở nhà những người bạn tù cũ để cùng nhau tìm cách sinh nhai bằng những nghề vặt vãnh hơn nữa. Nhưng rồi phong trào vượt biên trở nên rầm rộ, nhiều người đi thoát viết thư về nhà . Những lá thư từ chân trời mới gửi về khiến ai cũng ao ước một ngày nào đó được như họ. Từ đó người ta bắt đầu lục lại những sách tiếng Anh, để hy vọng khi vượt biên nếu may mắn gặp tàu ngoại quốc còn nói được mấy câu cần thiết, và cũng từ đó Thưởng trở thành giáo sư Anh văn. Thật ra, vốn liếng tiếng Anh của Thưởng không đến nỗi qúa tệ, chàng đã từng dạy Anh văn ở một trường tư thục từ trước 1975. Nhưng dạy Anh văn vào thời đó cho những lớp nhỏ cũng không đòi hỏi khả năng to lớn gì. những gì Thưởng đã từng học trong các cuốn sách Anh văn ngày xưa bây giờ phun ra lại, ngày nào cũng như ngày nào, chỉ chừng đó là hết.
Vốn liếng Anh ngữ đã không có là bao, lại bị hao mòn theo năm tháng, nên trong những ngày mới đi dạy kèm, Thưởng phải ôn bài, luyện giọng qua mấy cuốn băng cũ mà chàng mua được. Đến bây giờ thì chàng đã tự tin hơn, nhưng chỉ tự tin với học trò của mình thôi, vì học sinh của chàng cũng chỉ học những câu đối thoại đơn giản, rất đơn giản mà thôi.
Chiều nay, sau khi dạy kèm cho Thảo, trên đường trở về nhà Thưởng đâm bâng khuâng.
Kể từ khi vợ con bỏ đi biền biệt không để lại dấu tích gì, chàng đã nhủ lòng, từ đây sẽ đóng chặt mọi ngõ ngách vào trong tâm hồn, sẽ không còn vương vấn với bất cứ người đàn bà nào nữa. Thưởng còn nhớ câu Loan nói với chàng khi hai người yêu nhau: "Không có anh, em sẽ chết!". Ấy vậy mà khi không có Thưởng chẳng những nàng không chết mà còn có vẻ yêu đời hơn. Thưởng không hiểu nổi là tại sao Loan không nói cho chàng biết là nàng sẽ đi, lấy chồng hay vượt biên chẳng hạn. Tại sao nàng lại bỏ đi lặng lẽ như thế? Nếu nàng nói rõ lý do, chắc chắn Thưởng sẽ không cố giữ nàng lại mà còn cầu mong nữa là đằng khác, vì Thưởng hiểu đi cải tạo thì chẳng biết bao giờ mới được về!
Vì Thảo mà Thưởng nhớ đến người vợ cũ, một nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn. Bây giờ Loan ở đâu? Thưởng có nghe đồn, Loan bây giờ đang sống ở bên Mỹ, đã lấy chồng là người cùng vượt biên với nàng. Rồi lại có tin đồn, Loan và cu Toàn, con của Thưởng và nàng, đã chết trong chuyến vượt biên.
Thưởng vừa đạp xe vừa nghĩ đến cả Loan lẫn Thảo, trí óc hỗn độn vì những hình ảnh của quá khứ và hiện tại trộn lẫn vào nhau, làm tí nữa chàng đâm sầm vào bà bán bún rong đang đi qua đường.
Cái tai nạn suýt xẩy ra làm Thưởng chợt tỉnh, chàng tấp xe vào lề đường, khóa xe cẩn thận, rồi ghé vào quán cà phê lạ mà đây là lần đầu tiên chàng uống, vì Thưởng không thích đến những quán ăn, uống mà chàng không quen.
Khi về đến nhà thì cô em gái Thưởng đã đi chợ, mấy đứa cháu đang ngồi chơi lê la ở sân nhà hàng xóm, thấy Thưởng, một đứa chạy về nói với chàng:
-Mẹ cháu nói, mẹ cháu đi đến tối mới về.
Thưởng chỉ "ừ" một tiếng rồi đẩy xe đạp vào nhà. Căn nhà của Tuyết trước đây chứa đầy đồ đạc, bây giờ trống trơn, vì nàng đã đem ra chợ trời bán lần hồi hết thứ này đến thứ khác vì kiếm không đủ ăn. Thưởng đi lại cái bàn kê gần cửa sổ, cầm bình nước rót một ly đầy, ngồi dựa lưng vào thành ghế, uống một hơi cạn hết nửa ly, rồi thẫn thờ nhìn qua khung cửa. Mảnh sân xi măng trở nên chói chang hơn dưới cơn nắng trưa. Thưởng bỗng nhớ đến những ngày phơi nắng cuốc đất trong trại cải tạo, thời gian thật là dài mà rồi cũng qua. Nhiều lúc Thưởng ngạc nhiên không ngờ mình có sức khoẻ dẻo dai đến thế.Ngồi nghỉ một lúc Thưởng mới nhớ lời của đứa cháu mới nói hồi nãy: "Mẹ cháu đi tến tối mới về", chàng đứng lên lấy nồi, đong mấy lon gạo đổ vào, xả qua mấy đợt nước cho trôi hết bụi bậm và những hạt gạo mọt nổi lềnh bềnh trên mặt nước, bắc lên cái bếp dầu rồi châm lửa nấu. Cái bếp dầu duy nhất này thỉnh thoảng mới được dùng đến vì dầu lửa đắt đỏ và khó mua, nhưng bây giờ thì Thưởng cảm thấy mệt mỏi, không muốn loay hoay ngồi nhóm bếp than hay củi, nên lấy bếp dầu đun đại cho xong. Thưởng cũng chẳng hiểu tại sao mới được tha về nhà có ít tháng mà chàng đã rất ngại chuyện bếp núc, mặc dầu khi còn trong tù chàng thường phải nấu ăn trong những hoàn cảnh eo hẹp, thiếu củi, thiếu than và thiếu cả thì giờ. Ấy vậy mà mọi chuyện cũng xong xuôi cả!
Nấu xong nồi cơm Thưởng không biết làm gì nữa sau khi đã lục lọi, tìm kiếm mà không thấy có cá thịt, rau cỏ gì cả, chàng đành chờ khi cô em về muốn làm gì thì làm, vì thường nàng cũng chỉ dám nhờ Thưởng nấu giùm nồi cơm cho lũ con ăn tạm, còn thức ăn nàng sẽ mua về, sau khi đã kiếm được chút tiền.
Cũng có ngày cô em trở về với hai bàn tay không, và cả nhà đành phải ăn cơm với chút muối đậu đã được làm sẵn để trong chạn.
Vừa nấu xong nồi cơm thì lũ cháu kéo về. Căn nhà đang vắng lặng bỗng trở nên ồn ào. Có đứa chạy lại gần Thưởng hỏi:
-Cơm chín chưa cậu?
Thưởng lắc đầu rồi nói với nó:
-Cháu đi chơi một chút nữa cho quên đói, cơm chưa chín.
Đứa bé mặt tiu nghỉu bỏ đi. Thưởng gọi đứa cháu lớn nhất đến gần rồi nói với nó:
-Cơm cậu đã nấu xong nhưng một lúc nữa mới ăn được. Tí nữa cháu lấy cơm cho các em ăn, chia cho đều. Có muối đậu mẹ cháu để trong chạn đấy!
-Cậu không ăn cơm ư?
-Cậu ăn sau, bây giờ cậu đi nghỉ một chút, nhức đầu quá!
Dặn đứa cháu xong, Thưởng bước lên căn gác mà cô em gái dành riêng cho chàng. Khi đi ngang phòng khách, Thưởng chợt thấy tấm ảnh của Lâm trong khung kính treo trên tường. Thằng em rể mất tích từ những ngày đầu tháng 4-75, chẳng biết còn sống hay đã chết!
Tấm ảnh của Lâm nhắc Thưởng đến cuộc sống cô đơn của em gái. Nó vốn lãng mạn, mê tiểu thuyết, ca hát. Lấy chồng có mấy năm mà đẻ một đàn con và bây giờ thì chồng mất tích, một nách nuôi đàn con dại, ấy vậy mà cũng xong, mặc dầu là vất vả...
Thưởng bỏ dở ý nghĩ về hoàn cảnh của đứa em vì cảm thấy mệt mỏi, rã rời. Sống bây giờ mà cứ nghĩ quàng nghĩ xiên thì rất dễ điên! Chàng nghĩ thầm, rồi bước lên cầu thang về với cái thế giới của riêng mình.
Khi lên đến nơi Thưởng nằm vật xuống chiếc giường con kê sát vách. Căn phòng tối hẳn vì mọi cửa sổ đều đóng kín. Định tâm sẽ nằm nghỉ một lúc nhưng rồi chàng ngủ quên luôn. Khi tỉnh dậy trong một khoảnh khắc chàng mất hẳn ý niệm về thời gian. Thưởng lấy tay đẩy cánh cửa sổ, mẩu sân xi măng phía sau nhà đã râm hẳn, và ánh nắng chỉ còn le lói trên mái tôn của những ngôi nhà bên cạnh. Một bụi hoa giấy nhô lên khỏi mái tôn thấp của ngôi nhà phía trước, một vài cành non vượt lên cao hơn rồi cong lại đong đưa mãi vì gió, mấy nụ hoa chưa đủ đỏ lẫn trong màu lá xanh làm cho mái tôn sét rỉ trở nên tươi mát hơn trong ánh nắng buổi chiều. Dưới sân mấy đứa cháu của Thưởng thấy chàng dậy, chạy ùa lên gác, đứa nhỏ nhất nói với chàng:
-Mẹ cháu đi đâu mà lâu quá chưa về hả cậu?
Thưởng kéo đứa cháu vào lòng, vỗ về:
-Mẹ cháu đi buôn bán chứ đi đâu, chút nữa mẹ cháu về.
-Cháu đói qúa rồi!
Tự nhiên Thưởng cũng cảm thấy đói cồn cào, chàng sực nhớ là mình đã ngủ quên, bỏ bữa cơm trưa. Thưởng nói với cháu:
-Để cậu xuống nấu cơm cho cháu ăn. Cơm buổi trưa ăn hết rồi sao?
Cô bé trả lời:
-Còn cơm, nhưng chị Hà không cho cháu ăn, nói để phần cậu.
-Thôi cháu xuống lấy cơm ăn đi, cậu không ăn đâu.
Cô bé mừng rỡ chạy xuống cầu thang, mấy đứa khác cũng chạy xuống theo.
oOo
Thưởng đến nhà Thảo thì thấy nàng ngồi sẵn ở một cái bàn ngoài phòng khách, đang hí hoáy viết gì đó. Mái tóc cắt ngắn xòa xuống che gần hết đôi má, lọn tóc hai bên khẽ đong đưa theo chiều cử động của bàn tay đang thoăn thoắt trên tờ giấy trắng. Thưởng giơ tay gõ vào cánh cửa đã mở sẵn. Thảo nhìn lên, đôi mắt đen thoáng chút bối rối:
-Mời thầy vào, em đang chờ thầy.
Vừa nói Thảo vừa gấp tờ giấy nàng đang viết dở, cất vào cuốn vở gần đấy một cách vội vàng. Bỗng nhiên Thưởng có cảm tưởng Thảo đang viết dở dang một bức thư tình, để gửi cho một người nào đó, mà chắc chắn không phải là chàng.
Một nỗi thất vọng bỗng vỡ oà trong đầu. Chàng cảm thấy mình già nua, khô héo. Còn Thảo thì mơm mởm, xinh tươi, như một bông hoa mới hé nở vào một sáng mùa xuân.
-Không còn một mùa xuân nào nữa trong cuộc đời mình!
Thưởng nghĩ thầm, nhìn Thảo thoáng qua một giây rồi cúi xuống mở cuốn sách trước mặt. Chàng đọc một đoạn trong sách cho Thảo nghe rồi nói nàng đọc lại.
Giọng Thảo đều đều, Thưởng cố lắng tai nghe nhưng chỉ cầm trí được một lúc rồi chàng không còn biết Thảo đọc gì. Đầu óc hỗn độn ngổn ngang những ý tưởng không liên quan gì đến bài học.
Thảo đưa tay lật trang sách, ngón tay trỏ đưa ra đặt trên góc tờ giấy, kéo tờ giấy lên, nhưng đôi mắt vẫn dán vào giòng chữ đang đọc. Thưởng nhìn thấy những đường gân xanh nổi trên mu bàn tay trắng mịn của nàng. Chàng quay nhìn ra ngoài cửa sổ. Một khung trời xanh hiện ra, trong vắt như không có một chút vẩn đục nào. Trời đất lúc nào cũng đẹp, cả Thảo nữa! Chỉ có Thưởng là cảm thấy mình tàn tạ, khô héo...
Giọng đều đều của Thảo bỗng ngưng bặt, Thưởng nhận ra điều ấy nên quay lại, nói với nàng:
-Hôm nay tôi bận, có chút việc nên phải về sớm, tuần sau tôi sẽ dạy bù.
-Nếu thầy bận thì để hôm khác cũng được. Em cũng đoán là thầy bận chuyện gì đó.
Thưởng giật mình, có thể cử chỉ của chàng có gì đổi khác mà Thảo đã nhận ra. Chàng chợt cảm thấy mặt mình nóng bừng, lúng túng cúi xuống trên trang sách trước mặt để tìm lời nói tiếp và giấu nỗi xúc động.
-Bố mẹ em mới nhận được giấy xuất cảnh.
Thưởng nhìn lên:
-Vậy hả, mừng quá nhỉ?
-Vâng, bố mẹ em mừng lắm! Nhưng em nghĩ, chắc còn lâu mới đi được, nhiều người nhận được giấy xuất cảnh lâu rồi mà đã đi được đâu!
-Lâu, nhưng rồi sẽ đi, còn hơn không có gì hết như...tôi!
-Sao thầy không đi chui?
-Đi chui cũng phải có tiền chứ, mấy lạng vàng một người, kiếm đâu ra!
Chắc Thảo cũng biết là mình lỡ lời, nàng chuyển sang chuyện khác.
-Mấy hôm nay nóng quá!
-Sang đến bên ấy, chắc có ngày cô sẽ nói: "Mấy hôm nay trời lạnh quá!".
Thảo cười, để lộ hàm răng trắng và đều. Thưởng nhìn thấy cả cái đầu lưỡi đỏ và những nốt chấm đầu dây thần kinh vị giác trên lưỡi của nàng.
Một nỗi thèm muốn làm Thưởng bối rối nhìn ra khu vườn phía sau. Khu vườn sau nhà Thảo cũng có bụi hoa giấy đang nở rộ, đỏ chói chang dưới ánh nắng chiều.
Đã lỡ nói với Thảo chiều nay chàng bận nên phải về sớm, Thưởng đứng lên mà lòng nuối tiếc:
-Tôi xin lỗi vì phải về sớm, cô nhớ làm bài tập tôi đã đánh dấu sẵn.
Thảo ngước nhìn chàng:
-Vâng, em sẽ cố gắng làm hết.
Thưởng nhìn nàng một lần nữa rồi quay lưng bước ra ngoài. Thảo cũng bước ra theo, tiễn Thưởng đến cửa. Nàng ngừng lại nhìn Thưởng loay hoay mở khóa xe đạp và gật đầu chào chàng một lần nữa rồi mới quay vào. Nắng buổi chiều trải dài trên con hẻm gồ ghề trước nhà Thảo. Ánh nắng hình như nhảy múa trước mặt Thưởng. Chàng cắm cúi đạp xe nhưng trong lòng tràn ngập nỗi buồn phiền. Mai này Thảo sẽ đến một phương trời mới, một nơi rất nhiều người ao ước được tới nhưng ít người có cái may mắn ấy. Thảo sẽ vui tươi bên người tình của nàng, một người tình trẻ, khoẻ mạnh và có tương lai tươi sáng. Còn Thưởng sẽ sống ở đây cho đến chết!
oOo
Nhận lá thư từ tay người bưu tá, Thưởng giật mình, nét chữ trên phong bì đúng là nét chữ của Loan, người vợ đã biệt tích nhiều năm kể từ khi chàng đi "cải tạo" ít lâu.
Thưởng vội vàng xé phong bì. Vì vội vàng chàng đã xé phạm vào lá thư. Mồ hôi chợt toát ra như tắm khi chàng bắt đầu đọc những giòng đầu tiên.
Anh,
Sau khi đã âm thầm dò hỏi nhiều người, em được biết anh đã được tha về và hiện đang sống với cô em.
Chắc anh giận em lắm? Mà giận cũng phải, vì ít có người vợ nào tệ bạc như em!
Lý do tại sao em đã bỏ đi mà không nói lời nào từ giã ư? Em hổ thẹn anh ạ! Em nhỡ mang bầu với một người đàn ông khác nên không dám gặp mặt anh nữa. Anh đã cho em mật ngọt tình yêu và cả những đắng cay. Những em hiểu những đắng cay ấy rất nhiều người phải chịu chứ không phải riêng em. Chỉ có em là yếu đuối, không đủ sức chống chỏi với những cám dỗ, đến nỗi làm chúng ta phải xa cách nhau vĩnh viễn.
Nhiều khi chính em cũng ghét em, ghét cái bản năng xấu xa đê tiện của mình. Nhưng em chỉ là con người, một con người yếu hèn anh ạ. Em cần tình yêu của anh nhưng em cũng cần những thứ khác mới làm cho tình yêu ấy bền vững được. Nhiều khi em muốn tự tử vì những thúc giục bẩn thỉu của bản thân, nhưng em đã nói rồi, em yếu đuối quá nên chỉ nghĩ thế mà không dám làm. Chính vì thế mà em khổ sở. Em mong anh tha thứ cho em.
Bây giờ thì em ở xa, xa lắm! Lá thư này em nhờ một người bỏ ở bưu điện Sài Gòn, nhưng em không thực sự ở nơi ấy, em cũng không còn ở Việt Nam nữa, chắc anh cũng đoán được là em đang ở đâu.
Ở đây em không thiếu thốn về vật chất, có thể nói là dư thừa. Nhưng em lại biết là anh đang phải sống chật vật. Đó là lý do tại sao em viết lá thư này về anh để xin anh chấp thuận cho em gửi một chút quà biếu anh. Em hy vọng là anh sẽ không từ chối.
Em tiếc là không bảo lãnh anh được, vì người ấy vẫn còn đang sống với em. Thật sự thì em cũng muốn chấm dứt những liên hệ với anh ta để đón anh sang đây. Nhưng làm như thế chưa chắc đã mang lại hạnh phúc cho anh và cho em. Em cũng không biết anh có đủ rộng lượng để chấp nhận chuyện đó không? Thật sự lòng em bối rối chẳng biết tính thế nào, vì đường nào thì thấy cũng chẳng ra làm sao!
Anh biết không, đây không phải là lá thư đầu tiên em viết đâu, em viết nhiều lá rồi nhưng lá nào khi viết xong em cũng xé bỏ, và em cũng không biết khi viết xong lá thư này em có gửi nó đi không.
Con chúng ta đã lớn lắm rồi anh ạ, thằng Thái đã cao bằng bố và giống anh lắm!
Viết đến đây em cảm thấy mệt, có lẽ em chỉ cố gắng viết được bấy nhiêu thôi, mặc dầu có nhiều điều muốn nói.
Em mong nhận được thư anh. Địa chỉ em đề trong thư là địa chỉ của người bạn em.
Em,
Loan.
Đọc xong lá thư Thưởng ngồi thừ người nghĩ ngợi. Hình ảnh Loan tưởng đã chết hẳn trong lòng chàng bỗng sống lại mãnh liệt trong dòng ký ức. Những ngày Loan còn cắp sách đến trường và những chiều hẹn hò, rồi những ngày sống bên nhau sau khi cưới. Hình ảnh Loan mà chàng còn giữ mãi trong ký ức là những buổi chiều Loan lúi húi làm bữa cơm chiều ở dưới bếp, nhiều khi Loan còn hỏi Thưởng xem chàng muốn ăn món gì để nàng nấu. Cuộc đời hạnh phúc tưởng sẽ êm đềm trôi đi cho đến cuối đời, nào ngờ chỉ trong một thời gian ngắn đã đổ vỡ tan tành!
Loan bây giờ đang sống với người chồng mới, chắc nàng cũng chăm sóc người chồng của nàng như với Thưởng ngày xưa, ở một nơi thật xa nơi này.
Trong thư Loan không nói nàng đang định cư ở nước nào, nhưng Thưởng đoán là nàng đang ở Mỹ, vì phần đông những người vượt biên đều đến nơi ấy.
Thưởng đang ngồi ôn lại kỷ niệm cũ thì cô em gái trở về. Thấy anh đang ngồi bất động trước lá thư để trên bàn. Nàng hỏi:
-Thư của ai đấy, anh?
Thưởng quay nhìn em, trao cho nàng lá thư:
-Cô đọc thì biết.
-Nhưng thư của ai mới được chứ?
-Loan.
Nàng tròn mắt ngạc nhiên:
-Của chị Loan ấy à?
-Ừ.
Cô em gái nhặt lá thư đọc vội vàng. Khi đọc xong nàng ngước lên nhìn anh thì đã không thấy Thưởng đâu.
Còn Thưởng thì chàng cảm thấy là mình cần đi, bất cứ là đi đâu, nên đã đứng lên đi ra ngoài cổng.
Nắng buổi chiều nhuộm vàng con hẻm trước mặt. Bụi hoa giấy nhà ai ở cuối xóm nở rộ một màu đỏ chói chang, nó cũng rực rỡ như những kỷ niệm một thời giữa chàng và Loan, nhưng cũng chóng tàn như nắng buổi chiều khi đã đổi sang màu vàng úa như trong lúc này.
Giữa lúc không biết nên buồn hay nên vui khi nhận được lá thư của người vợ cũ, Thưởng đạp xe qua nhà Thảo, chàng thấy thấp thoáng bóng Thảo mặc áo lụa trắng bên kia khung cửa. Thưởng ngừng xe nhìn vào, đến khi Thảo quay nhìn ra chàng lại giả vờ cúi xuống lấy tay bóp vào lốp xe rồi tiếp tục đạp xe về hướng khác.
Hơn lúc nào hết Thưởng ao ước mình quên được cả Loan lẫn Thảo.
Cao Xuân Lý