Đợi bạnNgô Tự Lập
iếng chim gióng giả gợi nhớ mùi rơm khô xác, rồi chân trời bừng lên, hừng hực màu đỏ lửa. Một ngày mới đang đến, tôi biết, sẽ lộng gió và chói nắng.
Hình như nắng gió đã từng là niềm hân hoan đâu đó trong tiềm thức xa xôi, khi tôi còn bé dại, nằm trong lò rèn của cha nhìn ra khe cửa. Nhưng bây giờ tôi không chịu nổi, cả gió lẫn mặt trời. Chúng làm tôi mệt mỏi. Chắc chắn rồi tôi sẽ phải chốc chốc lại hoá thành bụi nước, bốc lên cao xanh, nghỉ lấy hơi giữa thinh không vô tận. Tôi chỉ thích mặt trăng. Thứ ánh sáng dịu hiền khiến vạn vật lung linh huyền ảo. Những đêm trăng như thế chính là lúc tôi chập chờn phiêu du trong vũ trụ.
Thường ngày tôi trở về khi con đường mòn bắt đầu lấp lánh sáng lên trong nắng sớm. Thân xác tôi ở chân núi Đụn, dưới tảng đá đầu voi màu xám chì đã bị cỏ lau um tùm che lấp. Nói vậy kể cũng chưa đúng hẳn. Đôi chân đã cháy thành than dưới gầm xác xe tăng, còn cái đầu văng ra bờ suối. Nước lũ cuốn ra sông Cái cùng vô số cành cây bị pháo chặt, nó trôi, khi nổi, khi chìm, nhưng không ra đến biển. Nó mắc lại trên bãi bùn cửa Vẹm, giữa hai gốc sú, mỗi hốc mắt giờ có một con tôm sắt già trú ngụ.
Thân xác là nhà của tôi, một căn nhà tuyệt diệu, tuy không còn nguyên vẹn, nhưng yên tĩnh và vắng vẻ. Mấy tháng đầu chỉ có lũ quạ đói phát hiện ra. Chúng lăn xả vào chân tảng đá, đánh lộn nhau. Những tiếng kêu om sòm vọng vào vách núi. Nhưng làm sao lay chuyển được hòn đá nặng! Chúng đành hậm hực bỏ đi, nhường kho báu cho bầy giun đất. Thú thực, kiểu ăn nhí nhách của loài giun có làm tôi khó chịu. Cũng may, khi thấy chẳng còn gỡ gạc được gì thêm từ mấy mẩu xương, chúng cũng lũ lượt theo nhau cuốn gói.
Rồi mùa hạ ập xuống. Rồi cỏ mọc trùm lên.
Bây giờ thì sự lãng quên tuyệt đối hoạ hoằn lắm mới bị làm xao động bởi tiếng gáy của lũ gà rừng vô tư hoặc bước chân rón rén của một con thú lạc đàn.
Lãng quên - đó là niềm an ủi. Bạn bè cùng tiểu đội chẳng đứa nào được thế. Không thể nhận biết từng người, người ta đành gom xác họ, những mảnh thịt xương vung vãi, đem ghép với nhau hú hoạ, gói vào túi ni lông, chở về nghĩa địa ở ngoại ô thị trấn, chỗ dòng suối nhập vào sông Cái.
Những dòng chữ đỏ trên bia mộ, vàng mã, hoa tươi - với chúng tôi tất thảy đều vô nghĩa. Chúng tôi đâu có cần ăn mặc, tiêu pha. Chúng tôi không sợ bệnh tật, chết chóc, cũng như chẳng bao giờ ham muốn, hận thù. Cả quá khứ cũng không mảy may làm chúng tôi xúc động.
Chúng tôi chỉ có một thói quen: Mỗi năm một lần về đâu tụ họp. Công sự đã hoá một cái vũng bèo ong nông choèn, thậm chí chật chội với cả bầy nòng nọc. Cái xác xe tăng không còn ở đó. Hồi đầu năm, dân sắt vụn mò lên, cắt xẻ, đưa nó xuống tàu. Cùng với chút tro tàn từ đôi chân tôi, nó đang lên đường lênh đênh sang Nhật.
Chúng tôi không hò hẹn, cũng chẳng có ngôn ngữ để chuyện trò. Những ai khẳng định rằng đã trông thấy chúng tôi, chẳng qua là bịa đặt. Chúng tôi như thời gian, làm gì có hình hài. Chúng tôi chỉ linh cảm thấy nhau, chín thằng, nghĩa là gần đủ mặt, chỉ trừ Hạo Lệch. Nhớ cái đêm mưa gió, nó lướt thướt bò về, lưỡi cứng lại, không nói được, nhưng vẫn khư khư trong bụng củ chuối rừng. Thì ra nó sục đi tìm cái ăn, rồi dẫm phải mìn lá. Ôi, sự no đói khốn khổ. Sự no đói - mà có thời chính tôi cũng bị dày vò - rồi Hạo sẽ thấy, sẽ không còn dày vò nổi nó.
Không, quá khứ không mảy may làm tôi xúc động, mặc dù tôi cũng chẳng thể quên. Mười năm là ba ngàn sáu trăm ngày. Ba ngàn sáu trăm ngày con đường mòn đột nhiên rung chuyển. Chính là chiếc xe tăng ấy, nó hiện ra từ sau khúc ngoặt, cái bóng đen run rẩy trườn qua thung lũng. Bấy giờ nó đã từng gieo rắc niềm sợ hãi. Bấy giờ, những người lính lần đầu tiên nhận ra mình là con của đất, quỳ mọp xuống, cũng từng run như cái bóng đen kia.
Trái lựu đạn nóng bỏng trong tay, tôi bò trên đất ẩm - gánh nặng trách nhiệm, bản năng tự vệ hay lòng khao khát chiến công?... Cho đến khi cột lửa bùng lên chói lọi, giống hệt màu bình minh kia... Và tảng đá đầu voi ập xuống...
Những xác người ngã xuống, chồng lên nhau, lần lượt, như chuối đổ, trong ánh lửa bốc cao từ chiếc xe tăng, để rồi những lưỡi lê điên cuồng bổ xuống, xả ra từng mảnh.
Nhưng không có Hạo. Đất đã trùm lên, cứu nó.
Những đám lửa hãy còn leo lét, lần đầu tiên chúng tôi chập chờn quanh miệng chiến hào. Lần đầu tiên chúng tôi đợi Hạo.
Hạo cũng không quên. Mỗi năm một lần, chúng tôi nghe những bước chân tập bễnh của nó tiến lại từ sau khúc ngoặt, chỗ ngày nào hiện ra chiếc xe tăng. Ba lô nó đầy những đồ vàng mã: lựu đạn, quân phục, chín cái bi đông... Nó vẫn nhận ra tảng đá đầu voi. Nó vừa đốt hương vừa khóc. Nước mắt quánh lại, toàn muối, rớt xuống cánh bèo ong.
Chiều muộn Hạo mới đi. Rừng đêm nuốt lấy bóng dáng đơn độc, nhỏ nhoi của nó. Hạo không biết rằng bạn bè đang đợi, những vẫn mong nó quên đi mà sống. Cả tiểu đội chỉ còn mình nó. Giá như tấm huân chương có thể làm vơi đi đôi chút nhọc nhăn!
Chúng tôi đã chờ mười năm. Chúng tôi sẽ chờ mười lăm năm, hai mươi năm nữa. Sự mong mỏi của thời gian và quên lãng. Sớm hay muộn, rồi Hạo sẽ trở về tiểu đội. Chẳng ai có thể sống mãi trên trần thế.
Ngô Tự Lập